Lăng và đền thờ Thủy tổ Kinh Dương Vương

“Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng ba”...

 

Lễ rước kiệu Thủy tổ, kiệu Lạc Long Quân từ Đền về Lăng

Câu nói truyền miệng ấy từ ngàn xưa, luôn nhắc nhở người đời sống thủy chung sau trước, phải biết cây có gốc, nước có nguồn, đạo lý ấy trở thành lẽ sống sâu đậm trong mỗi người, vì thế ròng rã suốt ba tháng xuân, từ khắp nẻo đường Tổ quốc, người người lần lượt hành hương về đất tổ Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ), thăm viếng các vua Hùng có công dựng nước. Đáng tiếc, có lẽ chưa rõ địa danh lăng Kinh Dương Vương nên rất ít người về thăm viếng, thắp nén hương trầm tưởng nhớ vị thủy tổ người Việt.
 
Từ thành phố Bắc Ninh ( trước là thị xã Bắc Ninh) xuôi đường 38 đến Cầu  Hồ (trước là phà Hồ) khoảng 12km, đến ngã tư Song Hồ khoảng 500m, rẽ phải dọc theo đê sông Đuống chừng 5km đến thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành nơi có lăng mộ Kinh Dương Vương và đền thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân – Âu Cơ được xây dựng từ lâu đời và được tu bổ lập bia năm Minh Mệnh thứ 21(1840).
 
Khu lăng Kinh Dương Vương nằm ở ngoài đê, cách dòng Đuống ngày nay khoảng 500m. Lăng xưa, rợp bóng đại thụ, tạo cảnh quan tĩnh mịch, uy nghiêm. Thời thuộc Pháp khu lăng bị tàn phá trơ trụi, mãi đến năm 1971, nhân dân thôn Á Lữ mới có điều kiện quy hoạch và tôn tạo khang trang, thoáng mát mà vẫn đậm đặc dấu ấn của kiến trúc cổ.
 
Lăng có 8 mái “hai tầng mái”, trước cửa lăng mộ có 3 bệ thờ, trên đường vào về phía tay phải khu lăng mộ có ngôi nhà để du khách sắp lễ… toàn bộ diện tích khu lăng mộ khoảng 4200 m2. Nghi trượng khu lăng mộ gồm: Tấm bia đá xanh cao 1,05m, rộng 0,45m, mang dòng chữ “Kinh Dương Vương lăng” bia khắc năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) tháng 11, ngày 16 dựng xong lăng; trước lăng có đại tự “Nam bang thủy tổ” và câu đối “Việt nam sơ đầu xuất – Hồng bàng vạn đại xương” “Lập thạnh kỷ công nam thánh tổ, Phong thần tổ tích bắc thần tôn”, cùng một số bát hương sành, sứ cỡ lớn hoa văn cổ kính…
 
Kinh Dương Vương được nhândân Á Lữ tôn thờ ở đình làng (đình bị Pháp phá năm 1949), đền trong thờ Lạc Long Quân, đền ngoài thờ Âu Cơ (hai đền đều bị Pháp phá năm 1949). Năm 1959 nhân dân Á Lữ rước ba vị về thờ ở khu văn chỉ (nơi thờ hiện nay). Đền hiện nay gồm ba gian xây cất kiểu chữ công, nhà ngoài (tiền tế) gồm 5 gian, đủ để lập các ban thờ và tiếp đón du khách thăm viếng, có tường gạch bao quanh để bảo vệ, diện tích khu đền khoảng 2347 m2.
 
Ba gian trong – gian giữa có long ngai sơn son thếp vàng đặt trên bệ thờ Kinh Dương Vương, gian bên trái có ngai đặt trên bệ thờ Âu Cơ, gian bên phải có ngai đặt bệ thờ Lạc Long Quân, cùng với hệ thống nghi trượng bằng đồng, gỗ, sứ khá phong phú như: mâm đồng, đỉnh, lư hương, ống hoa, thau rước nước, chiêng…       Các bức đại tự đặt ở vị trí trang trọng: “Nam tổ miếu”, “Nam bang thủy tổ” và câu đối “Việt Nam hoàng đồ vạn lý giang sơn đề tạo thủy – Hồng Bàng đế trụ thiên thu hà lạc tú linh thanh”, “Phụ đạo thiên niên quốc – Âu Cơ bách noãn bào”… cùng 15 đạo sắc của các vua triều Nguyễn ban cấp hiện còn lưu giữ, đạo sắc có niên hiệu sớm nhất: “… Gia Long cửu niên (1810) tháng 8 ngày 11 Sắc chỉ. Siêu Loại huyện, Á Lữ xã, viên sắc xã trưởng toàn xã đẳng hệ luôn xã tòng tiền phụng sự Kinh Dương Vương nhất vị hữu linh triều gia tôn mỹ tự chuẩn hứa y cựu phụng sự chỉ thần kính ý cố sắc”… Đạo sắc có niên hiệu muộn nhất… Khải Định cửu niên (1924) tháng 7 ngày 25 sắc chỉ, Bắc Ninh tỉnh, Thuận An phủ, Siêu loại huyện, Á Lữ xã, toàn tiền phụng sự Kinh Dương Vương hộ quốc tý dân hiển hữu công đức tiết mông ban cấp, sắc chỉ chuẩn hứa phụng sự tứ kinh chính trực…
 
Ngoài lăng mộ, đình, đền và những sưu tập hiện vật được bảo trọng tại Á Lữ Đại Đồng Thành, Thuận Thành, nói về thủy tổ người Việt, rành rành sử sách còn ghi:
“… Vua Kinh Dương Vương tự là Lộc Tục, thú Động Đình quân nữ, sinh ra Lạc Long Quân – tự là Sùng Lãm, ngài thú đức Âu Cơ sinh trăm con trai, sau 50 người theo mẹ lên núi, 50 người theo cha xuống vùng biển khai phá, gìn giữ mở mang bờ cõi, ngài truyền cho con cả nối ngôi – vua Hùng Vương thứ nhất …”
 
“Kể từ khi Kinh Dương Vương, họ Hồng Bàng nối dòng dõi Thần Nông, lấy con gái vua Động Đình, sáng rõ đạo vợ chồng, theo đúng nguồn phong hóa, vua thì lấy đức mà cảm hóa dân, rũ áo khoanh tay, dân thì cày ruộng, đào giếng, ra ngoài thì làm lụng, trở về thì nghỉ ngơi, chẳng phải là phong tục thái cổ của Viêm đế ư ? Lạc Long Quân nối đời Hồng Bàng lấy con gái họ Âu Lạc mà có điềm lành sinh trăm con trai, tổ của người Bách Việt thực bắt đầu từ đấy, hưởng nước trải nhiều năm, rất là lâu dài, đã giàu thọ lại nhiều con trai từ xưa tới nay chưa từng có, Hùng Vương nối nghiệp Lạc Long, chăm ban tước huệ để vỗ yên dân…”
 
“Kỷ Hồng Bàng thị - Kinh Dương Vương tên húy là Lộc Tục, con cháu họ thần Nông…”
Phù hợp với những chứng tích tại các di tích Khảo cổ học, khu vực lăng mộ và đình miếu ghi nhận về Lộc Tục, tức Kinh Dương Vương tại thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành đã đặt niên mốc 2873 TCN vào trang đầu lịch sử dựng nước. Tiếp đó là sự có mặt của Lạc Long Quân con trai và người kết tục sự nghiệp Kinh Dương Vương trên vùng đất này…
 
Tôn trọng sự thật lịch sử, ngày 2/2/1993. Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định số 74/VH-QĐ công nhận “Di tích lịch sử lăng và đền thờ Kinh Dương Vương, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành”.
 
Dù cho chiến tranh tàn phá, bão lũ hủy hoại, nhân dân Á Lữ luôn bảo trọng, tôn tạo khu di tích lịch sử lăng và đền thờ Kinh Dương Vương để nhân dân trong làng và du khách thập phương quanh năm hương khói và tụ hội ( từ 15 đến 18 tháng giêng âm lịch hàng năm) dâng hương bái lạy tiên tổ biểu thị truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”.
 
Di tích lịch sử lăng và đền thờ Kinh Dương Vương khẳng định Bắc Ninh là vùng đất người Việt cổ sớm tụ cư – cái nôi chốn tổ của đất Việt. Và làm phong phú thêm kho tàng lịch sử xứ Bắc cổ kính và văn hiến; sáng rõ thêm cội nguồn dân tộc Việt Nam.



Theo bacninh.gov.vn